Báo cáo: “Dạy học tích hợp liên môn – Dạy học định hướng phát triển năng lực trong môn sinh học ở trường trung học”.

0
52

31/10/2014

PHẦN MỞ ĐẦU

Tích hợp là một trong những quan điểm giáo dục đã trở thành xu thế trong việc xác định nội dung dạy học ở nhà trường phổ thông và trong xây dựng chương trình môn học ở nhiều nước trên thế giới. Dạy học tích hợp được xây dựng trên cơ sở những quan điểm tích cực về quá trình học tập và quá trình dạy học. Vận dụng hợp lí quan điểm tích hợp trong giáo dục và dạy học sẽ giúp phát triển các năng lực giải quyết những vấn đề phức tạp và làm cho việc học tập trở nên có ý nghĩa hơn với học sinh so với việc các môn học, các mặt giáo dục được thực hiện riêng rẽ. Tích hợp là một trong những quan điểm giáo dục  nhằm nâng cao năng lực của người học, giúp đào tạo ra những con người có đầy đủ phẩm chất và năng lực để giải quyết các vấn đề của cuộc sống hiện đại. Tích hợp là tư tưởng, là nguyên tắc và là quan điểm hiện đại trong giáo dục. Đối với nền giáo dục Việt Nam hiện nay việc hiểu đúng và vận dụng phù hợp quá trình tích hợp có thể đem lại những hiệu quả cụ thể đối với từng phân môn trong nhà trường phổ thông.

PHẦN NỘI DUNG

I. Cơ sở lý luận và thực tiễn của dạy học tích hợp liên môn.

1. Cơ sở lý luận

Trong dạy học, tích hợp liên môn được hiểu là sự kết hợp, tổ hợp các nội dung từ các môn học trong các lĩnh vực học tập khác nhau thành một môn tổng hợp mới hoặc lồng ghép các nội dung cần thiết vào những nội dung vốn có của môn học ví như lồng ghép nội dung dân số vào môn Sinh học, môn Địa lí; nội dung giáo dục môi trường môn Sinh học, môn Công dân… Như vậy thông qua dạy học tích hợp liên môn thì những kiến thức, kỹ năng học được ở môn này có thể sử dụng như những công cụ để nghiên cứu, học tập các môn học khác: chẳng hạn sử dụng Toán học như những công cụ đắc lực để nghiên cứu Sinh học hay Tin học được sử dụng như một công cụ để mô hình hóa các quá trình sinh học, các thí nghiệm sinh học…

*Mục tiêu của dạy học tích hợp liên môn:

– Làm cho quá trình học tập có ý nghĩa hơn: Hình thành ở người học, những năng lực rõ ràng.

– Giúp học sinh phân biệt cái cốt yếu với cái ít quan trọng hơn: Do dự tính được những điều cần thiết cho học sinh.

– Quan tâm đến việc sử dụng kiến thức trong tình huống cụ thể: Giúp học sinh hòa nhập vào thực tiễn cuộc sống.

– Giúp người học xác lập mối quan hệ giữa các khái niệm đã học.

* Đặc điểm của dạy học tích hợp liên môn:

– Lấy người học làm trung tâm.

– Định hướng, phân hóa năng lực người học.

– Dạy và học các năng lực thực tiễn.

=> Dạy học tích hợp liên môn giúp  học sinh trở thành người học tích cực, người công dân có năng lực giải quyết tốt các tình huống có vấn đề mang tính tích hợp trong thực tiễn cuộc sống. Dạy học tích hợp liên môn cho phép rút ngắn được thời gian dạy học đồng thời vẫn tăng được khối lượng và chất lượng thông tin.

* Các quan điểm tích hợp trong dạy học hiện nay:

– Tích hợp “đơn môn”: Xây dựng chương trình học tập theo hệ thống của một môn học riêng biệt. Các môn học được tiếp cận một cách riêng rẽ.

– Tích hợp “đa môn”: Một chủ đề trong nội dung học tập có liên quan với những kiến thức, kỹ năng thuộc một số môn học khác nhau. Các môn tiếp tục được tiếp cận riêng, chỉ phối hợp với nhau ở một số đề tài nội dung.

– Tích hợp “liên môn”: Nội dung học tập được thiết kế thành một chuỗi vấn đề, tình huống đòi hỏi muốn giải quyết phải huy động tổng hợp kiến thức, kỹ năng của những môn học khác nhau.

– Tích hợp “xuyên môn”: Nội dung học tập hướng vào phát triển những kỹ năng, năng lực cơ bản mà học sinh có thể sử dụng vào tất cả các môn học trong việc giải quyết các tình huống khác nhau.

2. Cơ sở thực tiễn

– Xu hướng tích hợp các môn khoa học tự nhiên trên thế giới.

– Thực tế giáo dục Việt Nam: quan điểm tích hợp đã được thể hiện trong một số môn học ở bậc tiểu học từ thời Pháp thuộc và ngày nay vẫn được định hướng ở nhiều cấp học.

– Chương trình Sinh học trong nhà trường phổ thông có nhiều tiềm năng, cơ hội để xác định, xây dựng các nội dung, chủ đề tích hợp trong môn học hoặc với các môn khoa học liên quan như Toán, Lý, Hóa…

– Kinh nghiệm dạy học dự án là hình thức tích hợp liên môn ở một số nước trên thế giới.

– Định hướng vận dụng quan điểm tích hợp trong giáo dục giai đoạn sau năm 2015 của bộ Giáo dục – Đào tạo.

II. Tìm hiểu về phương pháp và xu hướng dạy học tích hợp liên môn.

1. Thế nào là dạy học tích hợp liên môn?

Theo chúng tôi hiểu thì “Dạy học tích hợp liên môn là dạy cho học sinh biết tổng hợp kiến thức, kĩ năng ở nhiều môn học để giải quyết các nhiệm vụ học tập và hình thành năng lực giải quyết các tình huống thực tiễn”, trong đó:

Dạy học tích hợp có nghĩa là đưa những nội dung giáo dục có liên quan vào quá trình dạy học các môn học như: tích hợp giáo dục đạo đức lối sống, giáo dục pháp luật, giáo dục chủ quyền quốc gia về biên giới biển đảo, giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, giáo dục bảo vệ môi trường, an toàn giao thông…

Dạy học liên môn là phải xác định được các nội dung kiến thức liên quan đến các môn học khác để dạy học, tránh việc học sinh phải học lại nhiều lần cùng một nội dung kiến thức ở các môn học khác nhau. Đối với những kiến thức liên môn nhưng có một môn học chiếm ưu thế thì có thể bố trí dạy trong chương trình môn học đó và không phải dạy ở các môn khác. Trường hợp nội dung kiến thức có tính liên môn cao hơn thì sẽ tách ra thành các chủ đề liên môn để tổ chức dạy học riêng vào một thời điểm phù hợp, song song với quá trình dạy học các môn liên quan.

2. Ưu điểm của dạy học tích hợp liên môn.

So với dạy học đơn môn hiện nay thì dạy học tích hợp liên môn không có nhiều khác biệt về phương pháp tổ chức và hình thức dạy học bởi: Cho dù dạy học liên môn hay đơn môn thì đều đòi hỏi chúng ta phải tổ chức các hoạt động dạy học một cách tích cực, tự lực, sáng tạo, tăng khả năng vận dụng kiến thức vào giải quyết  các vấn đề thực tiễn. Đối với việc dạy học một chủ đề thì liên môn hay đơn môn đều cần phải chú trọng việc ứng dụng kiến thức của chủ đề ấy nó bao gồm cả ứng dụng vào thực tiễn cũng như ứng dụng trong các môn học khác. Sự khác biệt chủ yếu là chỉ ở nội dung của chủ đề: Dạy học đơn môn, đề cập đến kiến thức thuộc một môn học, dạy học liên môn đề cập đến kiến thức thuộc nhiều môn học “liên quan”, do vËy nếu ở các  nội dung có tiềm năng dạy học tích hợp liên môn mà chúng ta tổ chức dạy học tớch hợp liờn mụn hợp lí thì cả học sinh và giáo viên đều có thể dễ dàng tiếp cận  và thực hiện có hiệu quả, đáp ứng được mục tiêu của đổi mới giáo dục theo xu thế giáo dục hiện đại.

Khi tiến hành dạy học tích hợp liên môn là chúng ta đã xây dựng được các chủ đề có tính thực tiễn nên sinh động, hấp dẫn đối với học sinh, do đó tạo được động cơ, hứng thú học tập cho học sinh. Hơn nữa học sinh được tăng cường khả năng vận dụng kiến thức tổng hợp vào giải quyết các tình huống thực tiễn, ít phải ghi nhớ kiến thức một cách máy móc, thụ động. Đồng thời học sinh không phải học lại nhiều lần một nội dung kiến thức ở các môn học khác nhau, tránh được việc học quá tải hay nhàm chán do học sinh đã được học ở môn khác, nhờ đó cho phép  chúng ta vừa rút ngắn được thời gian trong dạy học bộ môn vừa tăng cường khối lượng và chất lượng thông tin.

3.  Xu hướng của dạy học tích hợp liên môn

Xuất phát từ những ưu điểm của dạy học tích hợp liên môn, chúng tôi nhận thấy, dạy học tích hợp liên môn là cần thiết, nó là xu hướng của lý luận dạy học và đã được nhiều nước trên thế giới thực hiện.

* Trên thế giới, hiện nay có hai xu hướng dạy học tích hợp:

– Tích hợp trong một môn học gồm có tích hợp đơn môn, tích hợp đa môn, tích hợp liên môn hoặc tích hợp xuyên môn.

– Tích hợp nhiều môn học, nhiều lĩnh vực thành một môn tổng hợp mới gồm có tích hợp liên môn và tích hợp xuyên môn.

* Ở Việt Nam, trước những yêu cầu có tính pháp lý về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục giáo dục phổ thông sau năm 2015 đã được thể hiện trong các văn bản, nghị quyết của đại hội §ảng. Đặc biệt mới nhất là trong Nghị quyết 29/NQ-TW với mục tiêu thay đổi “phương pháp dạy học từ truyền thụ kiến thức sang tổ chức hướng dẫn định hướng phát triển năng lực nhận thức học sinh”, đang đặt ra thách thức lớn đối với đội ngũ giáo viên ở trường phổ thông. Theo đề án đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, dạy học tích hợp là định hướng về nội dung và phương pháp dạy học, trong đó giáo viên tổ chức hướng dẫn để học sinh biết huy động tổng hợp kiến thức, kỹ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập, th«ng qua đó hình thành những kiến thức, kỹ năng mới, phát triển được những năng lực cần thiết, nhất là năng lực giải quyết vấn đề trong học tập và thực tiễn cuộc sống, nhằm đào tạo những con người có năng lực phát triển và giải quyết các vấn đề đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế – xã hội thời kỳ hội nhập. Nhưng giáo dục phổ thông Việt Nam hiện nay cho thấy đặc điểm cơ bản là định hướng nội dung, chú trọng truyền thụ trí thức khoa học theo các môn học đã được quy định trong chương trình dạy học, những nội dung của từng môn học đều dựa trên khoa học chuyên ngành tương ứng. Do vậy người dạy chỉ chú trọng việc trang bị cho học sinh hệ thống tri thức khoa học khách quan về nhiều lĩnh vực khác nhau, chưa chú trọng đầy đủ đến chủ thể người học cũng như đến khả năng ứng dụng tri thức đã học trong những tình huống thực tiễn.

Từ ưu điểm của dạy học tích hợp liên môn, yêu cầu thực tiễn của giáo dục hiện đại và thực trạng của giáo dục Việt Nam hiện nay, chúng tôi nhận thấy dạy học tích hợp liên môn là xu thế tất yếu và có tính khả thi.

III. Thực tế của dạy học tích hợp liên môn trong d¹y häc Sinh hächiện nay.

Hiện tại giáo dục của chúng ta vẫn chưa thoát khỏi nền giáo dục “ứng thí” nên mục tiêu dạy và học môn Sinh học vẫn chưa định hướng đúng với vị trí của nó, việc dạy môn này chủ yếu theo yêu cầu trước mắt của học sinh là để thi tốt nghiệp, tuyển sinh vào đại học. Số lượng trường đại học tuyển sinh khối B ít, số ngành liên quan đến sinh học chưa thực sự cuốn hút nên số học sinh ham mê môn sinh học là ít, do vậy việc dạy học môn Sinh học mới dừng lại ở mức trang bị kiến thức. Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và dạy học thử nghiệm tích hợp liên môn cho môn Sinh học chúng tôi nhận thấy có những thuận lợi và khó khăn nhất định.

1. Thuận lợi

Dạy học tích hợp liên môn trong dạy học Sinh học được hiểu là người học có thể sử dụng kiến thức, kỹ năng của của nhiều môn học khác để giải quyết các vấn đề đặt ra trong quá trình học tập bộ môn, quan điểm dạy học này hiện nay cần được áp dụng ở nhiều cấp học. Thực hiện dạy học tích hợp liên môn sẽ mang lại nhiều lợi ích trong việc hình thành và phát triển năng lực hành động, năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh. Sinh học là môn khoa học ứng dụng, thực nghiệm, là môn khoa học của sự sống, kiến thức của môn sinh học gắn liền với các yếu tố tự nhiên, xã hội… Trong dạy học môn Sinh học có thể tích hợp giáo dục với nội dung như: giáo dục ý thức BVMT, giáo dục kỹ năng sống… đặc biệt là những vấn đề mang tính thời sự như: sự biến đổi khí hậu toàn cầu, sự ô nhiễm môi trường, sự cạn kiệt tài nguyên, sự già hóa dân số, hậu quả của nó với việc giải quyết các vấn đề phúc lợi xã hội, vấn đề y tế và chăm sóc sức khỏe…

Trong chương trình môn Sinh học ở trường THPT, học sinh có thể sử dụng kiến thức ở nhiÒumôn học “liên quan” để giải quyết một số vấn đề: tích hợp kiến thức môn Toán để hình thành kỹ năng tính toán, xử lý số liệu; môn Hóa học để giải quyết về vấn đề liên kết hóa học, đo đạc mức độ ô nhiễm môi trường, tính chất hóa học của các chất lµm c«ng cô t×m hiÓu vÒbản chất sinh học của các tổ chức sống được cấu tạo từ những chất đó; môn Vật lý để giải quyết về đặc tính, tính chất vật lý của các chất, các tia, vấn đề về năng lượng, trao đổi vật chất hay để giải thích dễ dàng cơ chế tác động của các chất đến sự sống; môn Địa lý để hiểu về các vấn đề về dân số, khí hậu giúp học sinh dễ dàng giải thích cơ chế của sự thích nghi, tiến hóa, mối quan hệ giữa sinh học và môi trường; môn Văn học để đọc – hiểu văn bản một cách chính xác và viết cho đúng ngữ pháp; môn Tin để mô hình hóa các quá trình sinh học, các thí nghiệm …

Với những thuận lợi trên, chúng tôi nhận thấy so với các môn học trong nhà trường hiện nay thì môn Sinh học có nhiều cơ hội hơn trong việc xác định và xây dựng các nội dung, chủ đề dạy học tích hợp liên môn, hay các chủ đề định hướng phát triển năng lực học sinh.

2. Khó khăn

* Từ phía đội ngũ giáo viên: Đội ngũ giáo viên hiện nay chủ yếu được đào tạo theo chương trình sư phạm đơn môn, chưa được trang bị về cơ sở lý luận dạy học tích hợp liên môn một cách chính thống, khoa học nên khi thực hiện thì phần lớn là do giáo viên tự mµymò, tự tìm hiểu không tránh khỏi việc hiểu chưa đúng, chưa đầy đủ về mục đích, ý nghĩa cũng như cách thức tổ chức dạy học tích hợp liên môn. Phần lớn giáo viên đã quen với việc dạy học đơn môn là chính nên giáo viên các môn “liên quan” ít có sự trao đổi chuyên môn do vậy khi dạy học tích hợp liên môn chưa có sự thống nhất về nội dung, phương pháp, thời gian tổ chức các nội dung, chủ đề dạy học tích hợp liên môn của các môn “liên quan”; do chương trình giáo dục đã trải qua nhiều lần cải cách nên nhiều giáo viên khác môn chưa thực sự nắm rõ về cấu trúc chương trình, chưa cập nhật kịp thời những kiến thức mới và chưa được trang bị về “phương pháp sư phạm” đặc trưng của các môn học “liên quan” nên cho dù đãxác định được kiến thức, mức độ cần liên môn ở mỗi nội dung, chủ đề thì việc lựa chọn phương pháp tổ chức đôi khi còn chưa phù hợp, thậm chí không mang lại hiệu quả. Do đó khi tiến hành dạy học tích hợp liên môn kết quả đạt được mới ở mức  tích hợp; chưa tận dụng, ph¸t huyđược việc vận dụng kiến thức ở các môn “liên quan” làm công cụ hỗ trợ cho quá trình dạy học bộ môn, chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp của các môn “liên quan” trong dạy học các chủ đề tích hợp liên môn và cũng chưa thực sự giảm tải được…

* Từ phía các em học sinh:  Qua thực tế giảng dạy các em học sinh ở cụm các trường Phủ Lý chúng tôi nhận thấy có thể do nhiều lí do khác nhau mà phần lớn các em học môn Sinh học vẫn theo xu hướng học thụ động; các em không tích cực, không chủ động cho việc chuẩn bị, tìm hiểu, khai thác kiến thức môn học trong các giờ học; các em vẫn đang theo xu hướng học lệch của nÒngiáo dục “ứng thí” hiện nay nên không tích cực hợp tác cho việc chuẩn bị c¸cgiờ học tích hợp liên môn hoặc không thể sử dụng kiến thức của các môn “liên quan” như một công cụ để khai thác kiến thức mới ở môn Sinh học. VÝnhư: kỹ năng tính toán của nhiều học sinh đã lựa chọn việc theo học c¸c m«nkhối C, D chưa đủ để làm công cụ nhận thức và giải quyết nhiều kiến thức liên quan đến môn Sinh học; hay kiến thức các môn Lý, Hóa của các em còn mờ nhạt, không đủ để hiểu được cơ chế tác động của chúng đối với các cấp tổ chức sống; hay ở các em còn thiếu kiến thức về thực tế và chưa có định hướng đúng đắn về nghề nghiệp, ở các em vẫn nặng tư tưởng của trào lưu xã hội “không thích làm thợ” nên khi giáo viên đã xây dựng các chủ đề định hướng phát triển năng lực ở môn Sinh học thì số các em học sinh tích cực hợp tác là rất ít hoặc các em phân phối thời gian học tập giữa các môn học, giữa thời gian tự học và học có hướng dẫn của thầy cô còn chưa hợp lí nên không có thời gian để chuẩn bị cho các hoạt động học tập chủ đề chủ đề của môn Sinh.

* Từ phía chương trình sách giáo khoa của môn Sinh học hiện nay: Được viết theo kiểu đơn môn nên đôi khi còn có sự chồng chéo, thiếu tính đồng bộ về kiến thức giữa các môn học “liên quan”, giữa các cấp học, các lớp học, nên khi tiến hành xác định được các nội dung tích hợp liên môn nhưng thực hiện không có hiệu quả cao hoặc không thực hiện được. Ví dụ: môn Sinh học lớp 10 khi dạy về “Thành phần hóa học của tế bào” nếu như học sinh đã được học về cấu trúc hóa học, tính chất hóa học của nước, cacbonhidrat, lipit, prôtêin, axit Nu…thì ở môn Sinh học có thể sử dụng các kiến thức trên làm công cụ để tìm hiểu về chức năng sinh học của chúng trong c¸ctổ chức sống khi đó các tiết học môn sinh thực sự trở nên nhẹ nhàng, đúng như mục đích dạy học tích hợp liên môn.Thực tế chúng ta không thể thực hiện được  dạy học tích hợp liên môn các kiến thức đó ở sinh học 10 do các kiến thức hóa học trên các em được học ở lớp 12. Cụ thể hơn nữa sẽ được thể hiện trong báo cáo “số 3”, “số 4” và “số 5” của các trường.

IV. Kết quả và giải pháp cho dạy học tích hợp liên môn trong dạy sinh học.

Qua thời gian tổ, nhóm và các cá nhân vừa nghiên cứu cơ sở lý luận vừa áp dụng vào một số nội dung dạy theo chủ đề tích hợp liên môn ở trường và kết quả hội thảo cấp cụm trường vừa qua, giáo viên cụm trường Phủ Lý chúng tôi nhận thấy ë các nội dung kiến thức có tiềm năng dạy học tích hợp liên môn mà thực hiện dạy học tích hợp liên môn hợp lý thì:

* Kết quả học tập của học sinh đạt được là cao:

– Bằng những quan sát định tính chúng tôi thấy ở các tiết dạy tích hợp liên môn các em học sinh tích cực, chủ động, hứng thú trong việc tìm ra các tri thức mới với những biểu hiện như: các em sôi nổi, tích cực trao đổi, chủ động bày tỏ quan điểm.

– Các kiến thức mới hình thành trong bài học được thực hiện theo đúng quy trình logic của sự nhận thức: Các em được quan sát, trải nghiệm thực tế rồi tự rút ra kiến thức => Hiểu bản chất, dễ nhớ và nhớ lâu.

– Các kiến mới hình thành đều được gắn với những tình huống cụ thể => Tăng khả năng vận dụng kiến thức vào thực tế cuộc sống.

– Được phát huy kiến thức ở nhiều môn học => Tạo động lực cho học sinh học toàn diện các môn, tránh xu hướng  học lệch ở các em.

– Các em được phát triển các năng lực quan sát, năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực phán đoán, năng lực thu nhận thông tin, năng lực giao tiếp, năng lực tư duy sáng tạo…

– Bài kiểm tra 15’ sau mỗi tiết học ở cả bốn mức độ nhận biết, thông hiểu, vận dụng thấp và vận dụng cao các em đều đạt kết quả cao

* Năng lực dạy học tích hợp liên môn của giáo viên được nâng cao:

–  Giáo viên được tự tìm hiểu, tự trang bị cho mình cơ sở lí luận của dạy học tích hợp liên môn.

– Giáo viên các môn “liên quan” được tăng cường trao đổi thảo luận về các kiến thức liên quan, về việc lựa chọn phương pháp, lựa chọn cách thức tổ chức các hoạt động dạy học… => Mỗi giáo viên được chủ động về kiến thức, tự tin khi tổ chức các hoạt động dạy học và lựa chọn được phương pháp tối ưu.

– Biết “tích hợp” vừa đủ kiến thức các môn “liên quan”, tránh trùng lặp, nặng nề; cũng không xem nhẹ, bỏ qua; nhưng cũng không biến giờ học môn Sinh thành môn Toán, Lý, Hóa hay ngược lại.

– Tận dụng được sức mạnh của công nghệ thông tin vào quá trình dạy học.

Trên cơ sở đó chúng tôi mạnh dạn đưa ra quy trình và một số khuyến nghị cho việc vận dụng hiện nay.

1.Quy trình

Mỗi giáo viên phải tìm hiểu, nghiên cứu cơ sở lý luận của dạy học tích hợp liên môn, nghiên cứu kỹ nội dung chương trình môn Sinh ở từng khối lớp để xác định được các nội dung cần dạy học liên môn trên cơ sở:

– Xây dựng được các chủ đề, cácnội dungdạy học tích hợp liên môn, các chủ đề định hướng phát triển năng lực học sinh

– Tăng cường trao đổi chuyên môn ở trong tổ nhóm và các bộ môn “liên quan” để xác định: mục tiêu dạy học, mục đích và mức độ tích hợp, liên môn, phương tiện dạy học, cách thức tổ chức các hoạt động dạy học.

– Xây dựng quy trình và tổ chức các hoạt động dạy học cho phù hợp với đối tượng học sinh, nội dung và mức độ dạy học tích hợp liên môn đảm bảo thực hiện được mục tiêu dạy học, được thể hiện cụ thể ở các hoạt động của học sinh, hoạt động của giáo viên và thời gian tổ chức cho từng hoạt động (Thiết kế giáo án)

– Tổ chức dạy học tích hợp liên môn và rút kinh nghiệm.

– Do giới hạn về thời gian, nội dung báo cáo chỉ nêu một số VD:

* Ví dụ 1: Khi dạy học nội dung “Vai trò của quang hợp” – Chủ đề “Quang hợp ở Thực vật”. Sinh học 11 nâng cao, chúng tôi đưa ra:

Quy trình gồm các bước: Xác định: mục tiêu dạy học, mục đích tích hợp àTìm nội dung tích hợp, xác định mức độ tích hợp, phương tiện hỗ trợ àLựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức àTổ chức dạy học theo nội dung tích hợp. Cụ thể:

+ Mục tiêu dạy học:

–  HS hiểu rõ vai trò của quang hợp đối với sự sống -> tự giác tham gia, tích cực vận động mọi người tham gia bảo vệ môi trường sống đồng thời phát triển các năng lực : Mô phỏng hiện tượng, quan sát, phán đoán, tìm mối quan hệ, giao tiếp, tư duy sáng tạo, phân tích, tổng hợp.

+ Mục đích tích hợp: HS hiểu rõ về bản chất quang hợp -> khắc sâu kiến thức về quang hợp, hứng thú, tích cực, tự lực sáng tạo vận dụng kiến thức liên quan để đạt được các mục tiêu trên.

+Nội dung tích hợp: Kiến thức bảo vệ môi trường.

+ Kiến thức liên môn: Kiến thức hóa học, viết và cân bằng phương trình phản ứng, thuốc thử của tinh bột

+ Mức độ: Tích hợp “đa môn

+Phương tiện hỗ trợ tích hợp: Các hình ảnh về nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường, mô phỏng TN tìm hiểu bản chất hóa học của quang hợp; phiếu học tập.

+ Phương pháp: Trực quan

+ Hình thức tổ chức: Thảo luận nhóm.

+Tổ chức dạy học:

– GV yêu cầu học sinh sử dụng kiến thức hoá học hoàn thành PTTQ quang hợp.

– GV tổ chức các HĐ dạy học để học sinh hiểu rõ bản chất sinh học của quang hợp trên cơ sở đó các em tự rút ra các vai trò của quang hợp và các biện pháp hiệu quả trong hoạt động bảo vệ môi trường sống liên quan đến quang hợp.

* Ví dụ 2: Khi dạy học nội dung “Nước và vai trò của nước” – Chủ đề “ Thành phần húa học của tế bào” Sinh học 10 Nâng cao, chúng tôi đưa ra:

+ Mục tiêu dạy học:

Hiểu và trình bày được: Cấu trúc, đặc tính lý, hóa và vai trò cảu nước đối với tế bào.

Vận dụng kiến thức trên vào việc bảo vệ sức khỏe, bảo quản thực phẩm, bảo vệ môi trường.

Phát triển năng lực: mô phỏng hiện tượng, quan sát, phán đoán, tìm mối quan hệ, giao tiếp, tư duy, sáng tạo…

+ Mục đích tích hợp: HS hiểu rõ cấu trúc hóa học (các liên kết trong phân tử nước và giữa các phân tử nước, phân tử nước với các phân tử khác), đặc tính lí hóa của nước; hứng thú, tích cực, tự lực sáng tạo vận dụng kiến thức thức vật lí, hóa học để đạt được các mục tiêu trên.

+ Nội dung tích hợp: Nước với bảo vệ sức khỏe, bảo quản thực phẩm và BVMT

+ Kiến thức liên môn: Kiến thức hóa học (các liên kết cộng hóa trị, liên kết hiđrô, cấu trúc phân tử nước, tính chất hóa học của nước), kiến thức vật lí (đặc tính lí học của nước)

+ Mức độ: Tích hợp “liên môn”

+ Phương tiện hỗ trợ tích hợp:Các hình ảnh mô phỏng cấu trúc hóa học của phân tử nước, hình thành liên kết cộng hóa trị của phân tử nước, các ví dụ thực tiễn, cácphiếu học tập…

+ Phương pháp: Trực quan

+ Hình thức tổ chức: Thảo luận nhóm.

+ Tổ chức dạy học: Thể hiện ở dạy thử nghiệm

2. Khuyến nghị

Dạy học tích hợp liên môn hiện nay không phải là nội dung mới trong giáo dục có điều trước đây chúng ta thực hiện theo những khả năng, cách hiểu và quan điểm cá nhân, riêng lẻ ở các môn học khác nhau, chưa có sự đồng bộ và thống nhất giữa các môn liên quan nên, hiện nay:

* Khi xây dựng các nội dung, các chủ đề tích hợp liên môn cần đảm bảo các nguyên tắc sau :

– Đảm bảo tính hệ thống, chọn lọc nhưng có sự thống nhất, đồng bộ giữa các môn liên quan.

– Có tính thực tế (tính khả thi cao) : Phù hợp với năng lực, thời gian và điều kiện cơ sở vật chất, các thiết bị dạy học hiện nay…

– Đạt được mục tiêu giáo dục phổ thông và giáo dục môn học : Đảm bảo nội dung các môn học liên quan, tạo điều kiện cho học sinh gắn kiến thức môn học với thực tiễn cuộc sống đồng giúp các em mở rộng các kĩ năng, rèn luyện và phát triển được các năng lực chung và riêng .

* Khi tổ chức các hoạt động dạy học để thực hiện dạy học các nội dung, chủ đề tích hợp liên môn thì :

– Chúng ta cũng cần lựa chọn các phương pháp dạy học tích cực nhằm khai thác, vận dụng các kiến thức để phát hiện và giải quyết các vấn đề một cách chủ động, sáng tạo; đảm bảo có được sự hợp tác, gắn liền với thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui và hứng thú cho học sinh.

– Tăng cường hợp  tác với giáo viên khác cùng môn, các môn “liên quan” để trong quá trình dạy học không đồng nhất các môn “liªnquan” nhưng cũng không biệt lập, tách rời các môn quá xa; tích hợp sao cho kiến thức vừa đủ để học sinh tiếp thu, tránh trùng lặp, nặng nề; nhưng cũng không nên biến giờ học môn Sinh thành môn Toán, Lý, Hóa hay ngược lại cũng không thể xem nhẹ, bỏ qua hay không nhắc tới.

PHẦN KẾT LUẬN

Việc vận dụng dạy học tích hợp liên môn vào dạy học ở môn Sinh học là có hiệu quả đã góp phần nâng cao một bước chất lượng dạy và học trong nhà trường phổ thông. Những định hướng và giải pháp chúng tôi đề ra trong báo cáo là khả thi và có hiệu quả. Trong quá trình thực hiện, chúng tôi mạnh dạn đưa ra một số kiến nghị như sau:

1. Đối với tổ, nhóm chuyên môn tăng cường đổi mới nội dung sinh hoạt tổ nhóm chuyên môn theo hướng tích hợp dạy học liên môn bằng việc xây dựng các nội dung, chủ đề dạy học tích hợp để dạy thử nghiệm, rút kinh nghiệm cả về nội dung và phương pháp tổ chức.

2. Bộ và các Sở giáo dục và đào tạo vận dụng quan điểm tích hợp vào xây dựng kế hoạch chương trình bồi dưỡng giáo viên theo hướng nâng cao năng lực dạy học tích hợp liên môn bằng việc kết hợp tổ chức hội thảo với việc bồi dưỡng năng lực dạy học tích hợp cho giáo viên và thi giáo viên giỏi theo chủ đề dạy học tích hợp liên môn nhằm giảm tải cho Sở, trường, giáo viên phải tổ chức, tham gia nhiều hoạt động nhưng vẫn xác định và bồi dưỡng được các năng lực dạy học tích hợp liên môn cho giáo viên có chất lượng, hiệu quả và tiết kiệm. Đồng thời tăng cường tổ chức cho học sinh thi về vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết các tình huống thực tiễn.

3 Các trường đại học sư phạm phải xác định năng lực dạy học tích hợp cần đào tạo cho sinh viên sư phạm, trên cơ sở đó có kế hoạch bồi dưỡng năng lực dạy học tích hợp cho giảng viên, xây dựng khung chương trình chi tiết cho việc đào tạo sinh viên sư phạm theo hướng nâng cao năng lực dạy học tích hợp liên môn.

4. Bộ giáo dục và đào tạo xây dựng khung chương trình theo hướng dạy học tích hợp liên môn ở tất các môn học một cách đồng bộ, logic để tránh sự chồng chéo, biệt lập về kiến thức các môn.

Trên đây là một vài ý kiến, quan điểm của nhóm cụm các trường THPT thành phố Phủ Lý. Có thể những nhận xét, đánh giá, quan điểm trên còn mang tính địa phương cao, chưa phù hợp với quan điểm, đối tượng dạy học ở các địa phương khác. Chúng tôi rất mong sự đóng góp ý kiến của tất cả các đồng chí đồng thời cũng mong các đồng chí tích cực vận dụng sáng tạo, có hiệu quả không phải chỉ ở môn sinh mà ở tất cả môn học trong nhà trường.

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Giáo viên: Đinh Thị Thanh

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây